Phạm vi và trạng thái hiện tại
Liên kết đến phần này ↗Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 46/2026/TT-NHNN ngày 9 tháng 9 năm 2026; văn bản có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 2026 theo Điều 11 khoản 1. Thông tư sửa đổi Thông tư 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và không có điều khoản bãi bỏ văn bản này.
Tổ chức tín dụng phải bảo đảm có sự đồng ý của khách hàng vay trước khi cung cấp thông tin tín dụng cho Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC). Việc cung cấp cho tổ chức tham gia tự nguyện, tổ chức thông tin tín dụng nước ngoài hoặc tổ chức khác cũng cần sự đồng ý của khách hàng vay và phải phù hợp với hợp đồng đã thỏa thuận với CIC.
Yêu cầu chính và tác động vận hành
Liên kết đến phần này ↗| Điều khoản | Yêu cầu | Tác động vận hành |
|---|---|---|
| Điều 9, sửa Điều 17 khoản 1 | Sự đồng ý trước khi cung cấp cho CIC phải rõ ràng, cụ thể và có thể in hoặc sao chép thành văn bản, kể cả điện tử hoặc ở định dạng kiểm chứng được | Lưu nội dung, phiên bản, mục đích, bên nhận, thời điểm, kênh và bản có thể xuất trình |
| Điều 6, bổ sung Điều 12 khoản 7 | Cung cấp cho ba nhóm bên nhận tiếp theo cần sự đồng ý và tuân thủ hợp đồng với CIC | Tách hồ sơ theo nhóm bên nhận; không mặc định sự đồng ý cho CIC bao phủ bên khác |
| Điều 4 khoản 2, sửa Điều 9 khoản 3 | Cung cấp dưới dạng dữ liệu điện tử; chỉ cung cấp bằng văn bản khi nhóm chỉ tiêu không thể cung cấp điện tử và có thỏa thuận với CIC | Gắn ngoại lệ bằng văn bản với nhóm chỉ tiêu và thỏa thuận hỗ trợ |
| Điều 5, thay Điều 10 | Tần suất do Hệ thống chỉ tiêu hoặc hợp đồng với CIC quy định | Ghi nguồn của chu kỳ; không tự đặt thời hạn |
| Điều 7–8 | Điều chỉnh trách nhiệm thanh tra, kiểm tra và bổ sung tuyến Trung tâm tài chính quốc tế | Chuẩn bị hồ sơ có thể xuất trình cho đúng cơ quan |
Thông tư chỉ nêu một ngày có hiệu lực và không đặt thời hạn lưu giữ, thời hạn thu thập sự đồng ý hay thời hạn lan truyền việc rút lại sự đồng ý. Tần suất cung cấp nằm ở văn bản hoặc hợp đồng khác.
Ranh giới về sự đồng ý và chuyển dữ liệu
Liên kết đến phần này ↗Cụm từ “định dạng kiểm chứng được” không được định nghĩa. ComplianceOne ghi nhận định dạng mà tổ chức dựa vào, người đã chứng minh khả năng tái tạo và thời điểm thực hiện; nền tảng không tự xác nhận sự đồng ý là hợp lệ.
Đối với tổ chức thông tin tín dụng nước ngoài, sự đồng ý không tự thay thế việc đánh giá chuyển dữ liệu. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Dữ liệu tiếp tục áp dụng theo điều kiện riêng. Việc rút lại sự đồng ý tác động đến giao dịch nào là quyết định pháp lý cần được người có thẩm quyền ghi nhận, không phải kết luận do hệ thống suy ra.
ComplianceOne hỗ trợ như thế nào
Liên kết đến phần này ↗ComplianceOne ghi nhận tài liệu chứng minh sự đồng ý, nhóm bên nhận, loại dữ liệu, mục đích, điều khoản hợp đồng CIC, kênh cung cấp và đánh giá chuyển dữ liệu liên quan. Mỗi dòng cung cấp thể hiện trạng thái do người dùng ghi nhận: được bao phủ, không tìm thấy hồ sơ hoặc hồ sơ đã bị rút lại.
Nền tảng ghi nhận và xuất bằng chứng; không truyền dữ liệu tới CIC, không kết nối với Ngân hàng Nhà nước, không quyết định tính hợp pháp và không tự đặt tần suất. Các biểu mẫu của nền tảng là mẫu nội bộ; Thông tư 46 không ban hành biểu mẫu chính thức.
Danh sách kiểm tra mức sẵn sàng
Liên kết đến phần này ↗- Mỗi khách hàng vay được cung cấp thông tin cho CIC có hồ sơ đồng ý rõ ràng, cụ thể và có thể in hoặc sao chép.
- Mỗi lần cung cấp tiếp theo được phân loại đúng bên nhận và liên kết với sự đồng ý tương ứng.
- Chuyển cho tổ chức nước ngoài có đánh giá chuyển dữ liệu riêng, không dựa vào sự đồng ý như điều kiện duy nhất.
- Ngoại lệ cung cấp bằng văn bản có nhóm chỉ tiêu và thỏa thuận CIC làm căn cứ.
- Tần suất cung cấp được gắn với Hệ thống chỉ tiêu hoặc hợp đồng thực tế.
- Quyết định về tác động của việc rút lại sự đồng ý có người phê duyệt và căn cứ.
- Hồ sơ thanh tra có thể truy xuất theo kỳ, bên nhận và giao dịch.
Nguồn và giới hạn trách nhiệm
Liên kết đến phần này ↗Nội dung được đối chiếu với bản ký chính thức của Thông tư 46/2026/TT-NHNN và nguồn đã ghim của ComplianceOne. Nội dung cung cấp thông tin, không thay thế tư vấn pháp lý. Tổ chức, người có thẩm quyền và tư vấn pháp lý chịu trách nhiệm xác định phạm vi, đánh giá sự đồng ý và phê duyệt việc cung cấp thông tin.

